GIỚI THIỆU: Bài viết gồm hai phần này sẽ tập trung vào các bổn phận của người nhận ủy thác (fiduciary) trong hoạt động quản trị doanh nghiệp. Nói một cách đơn giản, đây là những bổn phận và trách nhiệm của người quản lý như thành viên Hội đồng Quản trị, giám đốc và những người quản lý khác của doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động quản trị và quản lý theo sự ủy thác và tin tưởng của chủ sở hữu.

Bạn đang xem: Fiduciary duty là gì

Bạn đang xem: Fiduciary duty là gì

A – TÌNH HUỐNG

Vụ việc 1

Tháng 8 năm 2007 – trong bối cảnh bùng nổ của thị trường bất động sản và chứng khoán, Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT (FPT Mẹ) thành lập một loạt các công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, FPT Mẹ không phải là đơn vị góp vốn nhiều nhất vào các công ty con đó do các thành viên Hội đồng Quản trị của FPT Mẹ ‘chủ động’ dành đặc quyền này cho chính họ. Hệ quả là cổ phần của FPT Mẹ sụt giá nghiêm trọng, gây thua lỗ nặng nề cho nhà đầu tư. Cho dù ban lãnh đạo của FPT Mẹ có đưa ra lời giải thích cho chuyện này, người ta vẫn cho rằng giá trị cổ phiếu được dự đoán là sẽ tăng chóng mặt của các công ty tài chính non trẻ mới chính là câu trả lời.

Vụ việc 2

Tháng 9 năm 2009, cơ quan điều tra ra lệnh bắt ông Lương Hoài Nam, Tổng Giám đốc của Jestar Pacific Airline (JPA), một liên doanh hàng không giá rẻ giữa Vietnam Airlines và Qantas Airways. Theo báo chí, ông Nam bị quy kết là ‘thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng’. Cụ thể, ông Nam bị tình nghi đã thiếu trách nhiệm trong điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của JPA khiến công ty này bị lỗ nghiêm trọng. Tiếp sau đó, hai quan chức cao cấp của JPA, cụ thể là giám đốc điều hành và giám đốc tài chính) cũng bị cấm xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trước vụ việc này, Qantas, đối tác nước ngoài trong JPA, phát biểu vụ thua lỗ của JPA là hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh doanh hàng không toàn cầu. Sau gần 10 tháng, cơ quan điều tra quyết định đình chỉ điều tra và miễn truy cứu hình sự đối với ông Nam.

Vụ việc 3

Năm 1994, Vietnam Airlines (VA) bị một luật sư người Italy tên là Liberati kiện đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến một hợp đồng đại lý bán vé ký giữa VA và Falcomar, một công ty Italy, trong giai đoạn 1991-1992. Theo đơn kiện, Falcomar đã thuê ông Leberati làm một số việc có liên quan đến VA nhưng chưa thanh toán tiền công cho ông này.

Tháng 3 năm 2000, Tòa sơ thẩm Roma ra phán quyết buộc VA phải bồi thường cho ông Liberati một khoản tiền tương đương với 4,3 triệu euro. Điều đáng lưu ý là VA đã không tham gia phiên tòa tại Italia mà không có lý do rõ ràng nào. Có vẻ như những người có trách nhiệm của VA đã cho rằng họ khó mà bị tác động bởi một bản án được tuyên ở nước ngoài. Hệ quả của việc này là VA không nhận được bản án và cũng không có thông tin nào liên quan đến vụ việc.

Đến tháng 5 năm 2002, VA nhận được thư của ông Liberati và bản sao bản án của tòa sơ thẩm Roma, yêu cầu thanh toán 4,3 triệu euro. Lúc này thì thời hạn kháng cáo phán quyết sơ thẩm đã hết. Có vẻ như VA vẫn không hề có bất cứ phản ứng gì trước yêu cầu này. Tuy nhiên, mọi chuyện trở nên tồi tệ khi Ủy ban Đòi nợ và Tịch biên Pháp, theo yêu cầu của ông Liberati, đã phong tỏa số tiền bán vé máy bay của VA tại Pháp để thi hành phán quyết nêu trên. Số gốc và lãi mà VA phải trả đã lên đến 5,2 triệu euro. Hệ quả là VA cuối cùng đành phải nộp đủ số tiền này vào tài khoản phong tỏa của Chủ tịch Đoàn Luật sư Paris để thi hành bản án. Đến lúc này, VA mới bắt đầu xúc tiến các công việc pháp lý để phản tố yêu cầu của Liberati.

B – NHỮNG NHẬN ĐỊNH SƠ BỘ

Không cần đến chuyên môn và kinh nghiệm pháp lý, bất cứ ai cũng thấy rằng có gì đó ‘không ổn’ ở cả ba vụ việc nêu trên.

Ở vụ việc đầu tiên, có vẻ như thành viên Hội đồng Quản trị của FPT đã cố gắng vun vén cho bản thân, thay vì cho FPT Mẹ là nơi họ đang điều hành. Sang đến vụ việc thứ hai, một chị bán rau vốn nằm lòng nguyên tắc ‘lời ăn, lỗ chịu’ có lẽ không hiểu sao lại có chuyện bắt người khi doanh nghiệp thua lỗ. Còn ở vụ việc cuối cùng, sự tắc trách của VA phản ánh một thực tiễn không mấy dễ chịu về sự quan liêu ở các doanh nghiệp Nhà nước.

Ở góc độ pháp lý, những vấn đề trên phức tạp hơn rất nhiều về bản chất, đặc biệt là trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, quốc gia có những bước chuyển mình nhọc nhằn từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang ‘cơ chế thị trường’. Quay lại các ví dụ trên, ta thấy hành vi của các thành viên Hội đồng Quản trị của FPT có dáng dấp một sự vi phạm bổn phận trung thành với doanh nghiệp. Vụ việc của Jestar Pacific Airline thể hiện sự xung đột dữ dội giữa chuẩn mực về bổn phận cẩn trọng theo pháp luật của các quốc gia phát triển và những mệnh lệnh/nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước, vốn là tàn dư của một nền kinh tế duy ý chí trước thời kỳ ‘mở cửa’ (1986). Tương tự, hành vi sơ suất của những người có liên quan tại Vietnam Airline đủ điều kiện để cấu thành một vi phạm bổn phận về hành động ngay tình và cẩn trọng của người quản lý.

Xem thêm: Những Cách Nói Từ “ Chảnh Tiếng Anh Là Gì ?%% Những Cách Nói Từ “Chảnh” Trong Tiếng Anh

C – BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI NHẬN ỦY THÁC

Ngược dòng lịch sử, Luật Công ty (Luật Công ty) được ban hành vào ngày 21 tháng 12 năm 1990, tức là chỉ vài năm sau khi công cuộc Đổi mới (1986) được phát động. Luật Công ty được coi như văn bản đầu tiên hoàn chỉnh nhất về cách thức tổ chức doanh nghiệp của khối tư nhân. Dầu vậy, Luật Công ty chỉ dành vỏn vẹn 13 điều để quy định về công ty cổ phần, trong đó bổn phận của người quản lý chỉ gói gọn trong một điều khoản chung chung về ‘Hội đồng Quản trị’. Cụ thể Điều 39 của Luật Công ty quy định ‘Hội đồng chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty’. Không khó để nhận thấy điều khoản này ảnh hưởng sâu nặng từ cách thức quản lý doanh nghiệp Nhà nước nhiều thập kỷ trước đó. Về cơ bản là không có bổn phận nào của người quản lý. Đơn giản nếu họ vi phạm các sai phạm trong quản lý thì họ phải chịu trách nhiệm . Còn quy định quản lý như thế nào và quy định ở đâu lại là một câu chuyện khác.

Gần 10 năm sau, Luật Doanh nghiệp (1999) được ban hành nhằm thống nhất một sân chơi chung cho các doanh nghiệp trong nước. So với Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp là một cuộc cách mạng thực sự trên nhiều phương diện: mức độ phức tạp hơn trong cơ cấu quản lý; cơ chế gia nhập thị trường đơn giản và rõ ràng hơn. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp 1999 dành hẳn một Điều 86 để quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty. Lần đầu tiên các khái niệm quản trị phổ quát như ‘trung thực, mẫn cán và vì lợi ích của Công ty và cổ đông’ được đưa vào. Người quản lý cũng có bổn phận trung thành khi không được lạm dụng địa vị và quyền hạn của mình để thu lợi riêng, v.v..

Kế thừa tinh thần của Luật Doanh nghiệp (1999), Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng dành một điều khoản riêng để nhấn mạnh lại nghĩa vụ ‘trung thành, trung thực và cẩn trọng’ của người quản lý. Tuy nhiên, cũng giống như các văn bản trước đó, Luật Doanh nghiệp (2005) không đưa ra các tiêu chuẩn rõ hơn nhằm xác định các hành vi này, ngoại trừ bổn phận trung thành (v.d. – không sử dụng thông tin, bí quyết của công ty để tư lợi, v.v…). Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp (2005) mặc dù đặt ra các nghĩa vụ của Người Nhận Ủy thác nhưng lại không đưa ra cơ chế đủ hiệu quả để buộc người quản lý phải thực hiện nghĩa vụ đó (ví dụ quy định lỏng lẻo về cơ chế để cổ đông kiện những người quản lý vi phạm bổn phận của người quản lý, v.v..).

Luật Doanh nghiệp (2014) về cơ bản không đưa ra bất cứ sự thay đổi đáng kể nào đối với bổn phận của người được ủy thác. Mặc dù vậy, luật này đã sửa lại khái niệm nghĩa vụ thành trách nhiệm. Về mặt ngữ nghĩa cả nghĩa vụ và trách nhiệm đều là một việc phải làm nhưng có tính ‘cưỡng bách’ khác nhau. Cụ thể, trách nhiệm thì nghiêng nhiều về các vấn đề đạo đức, thuộc bổn phận trong khi nghĩa vụ nhấn mạnh đến việc cưỡng bách thực hiện. Tuy nhiên đây không phải là điểm quan trọng vì Luật DN 2014 cũng đã cụ thể hóa rất nhiều các khái niệm về bổn phận theo tiêu chuẩn trong thông luật.

D- SỰ TỒN TẠI CỦA NHỮNG BẤT CẬP

Điều đáng tiếc là các Luật Doanh nghiệp (2014) hoặc về doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn đều không đưa ra bất cứ một giải thích tập trung và chi tiết về Bổn phận Người Nhận Ủy thác ngoài việc đề cập chung chung như đã nói ở trên. Việc thiếu vắng các hướng dẫn cụ thể để định lượng bổn phận (đánh giá khách quan – objective test) khiến cho việc xác định hành vi vi phạm Bổn phận Người Nhận Ủy thác là hết sức khó khăn và thực tế là các thẩm phán đều rất lúng túng khi xét xử những tranh chấp dạng này.

Việt Nam không có một nền tảng tiền lệ xử lý tranh chấp kinh doanh đồ sộ và khả năng đánh giá của thẩm phán cũng là một câu hỏi lớn. Đây là một khiếm khuyết rất nghiêm trọng vì ở các nước theo thông luật như Hoa Kỳ hoặc Anh quốc, thẩm phán có rất nhiều tiền lệ trước đó để đánh giá và bản thân luật về hoạt động doanh nghiệp của họ cũng rất rõ ràng với các tiêu chuẩn đánh giá cụ thể như ‘quy tắc phán đoán kinh doanh’ (business judgment rule). Ví dụ, việc xác định Bổn phận Người Nhận Ủy thác về cơ bản được xây dựng xung quanh ‘tính hợp lý’ với những câu hỏi kiểu ‘liệu một thành viên HĐQT đã hành động đầy đủ và hợp lý chưa khi ra quyết định?; ông/bà ta có tìm hiểu một cách hợp lý các thông tin có thể ảnh hưởng đến quyết định hay không?’ Về bản chất, đây là lúc vai trò của thẩm phán được phát huy vì luật pháp không thể nào mô tả chính xác như thế nào là hợp lý vì điều này phụ thuộc vào bối cảnh xảy ra vụ việc, năng lực và trình độ của từng con người cụ thể. Ở các quốc gia phát triển, trình độ của thẩm phán và bề dày xét xử các tranh chấp thương mại giúp cho việc này trở nên bớt khó khăn hơn. Ngược lại ở Việt Nam, việc thiếu vắng cả hướng dẫn luật định lẫn thực tiễn xét xử khiến cho việc đánh giá tính hợp lý trở nên khó khăn vô cùng.

Mặc dù vậy, nếu phải đi cho đến cùng thì các nguyên tắc/quy tắc xác định Bổn phận Người Nhận Ủy thác của nước ngoài, đặc biệt là các quốc gia theo thông luật cũng sẽ/nên được tòa án Việt Nam sử dụng như một trong những nguồn tham chiếu chủ yếu. Điều này trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh Luật Doanh Nghiệp của Việt Nam (2014) được xây dựng trên cơ sở vay mượn rất nhiều quy định về quản trị doanh nghiệp của các nước theo thông luật, mà cụ thể là Anh Quốc.

Theo Immanuel Kant, triết gia Đức, thì bổn phận gần với một hành động có tính đạo đức hơn là một nghĩa vụ ràng buộc chặt chẽ.

http://sluatquantridoanhnghiep.blogspot.com/2011/09/trach-nhiem-nguoi-quan-ly-theo-luat.html

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *